Kiến thức nha khoa ngày nay.

.

Các Vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước.

banner-2013 - Upanh.com

Các Vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước.

Học để hòa nhập

Không học thì lạc loài.

Học nữa thì được

Đừng học mãi.

lop-5---6-banh-van-tran - Upanh.com

Dù bạn có ở nơi đâu,

Cũng đừng quên mơi này.

Biết thì chưa đủ, đam mê cũng chưa,...

Cần thêm tinh luyện mới đủ.

Trang

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Luật Pháp Trong Nha Khoa


LUẬT PHÁP
1. Các nguyên tắc chung về pháp lý nào được áp dụng trong hành nghề nha khoa?
Luật pháp ở Mĩ đặt nền tảng trên luật hình sự và luật dân sự ; trong đó luật dân sự được chia ra gồm luật hợp đồng và luật về sai phạm. Phần lớn các vấn đề luật pháp có liên quan đến nha khoa bao gồm các lỗi về dân sự và các việc làm gây tai hại ; đó là những hành động sai trái hoặc gây nên thương tổn, nhưng không liên quan đến sự phá vỡ hợp đồng, đối với các việc làm sai trái này tòa án có thể đưa ra những biện pháp dân sự để bồi thường thiệt hại.
Sự cẩu thả và sơ suất của nha sĩ thường được xếp vào loại sai phạm gây tai nạn và được định nghĩa như sự thiếu sót không áp dụng những kĩ thuật, cũng như những khả năng chuyên môn đã được đa số các đồng nghiệp khác thực hiện một cách bình thường, và sự thiếu sót này được xem như là nguyên nhân gây ra tổn thương cho bệnh nhân. Cả hai khái niệm " cẩu thả" hay " sơ thả" đều được xem như là những tội không cố ý và thường được các bảo hiểm trong hành nghề nha khoa bảo vệ.
Việc đe dọa và hành hung thường nhắm đến sự xâm phạm không được phép trên thân thể của một người. Cả hai tội này được gọi là những sai phạm cố ý gây tai hại, còn hành hung thường tập trung vào những vấn đề có liên quan đến sự ưng thuận tự giác. Người nha sĩ có thể bị buộc tội hành hung khi bệnh nhân đồng ý nhận một loại hình điều trị mà nha sĩ lại thực hiện một loại điều trị khác ( thí dụ như chữa mầm răng ). Vấn đề quan trọng nhất được đặt ra trong việc xác định trách nhiệm là bệnh nhân có hiểu biết và đồng ý với loại điều trị đã thực hiện không, chứ không phải là người nha sĩ đã sai lạc đối với tiêu chuẩn điều trị đã được người trong nghề chấp nhận. Sự xâm phạm đời tư là một sai phạm cố ý khác, như khi hành ảnh hoặc tên của bệnh nhân được bác sĩ nha khoa dùng cho mục đích cá nhân chẳng hạn để quảng cáo. Sự tiết lộ danh tánh của một bệnh nhân khi chưa được phép với những người khác ngoài nhân viên bệnh viện cũng được xem như xâm phạm đời tư trong mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân 
2. Theo luật pháp mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân được quy định như thế nào ?
Đối với luật pháp, quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân chủ yếu được thể hiện qua những nguyên tắc của hợp đồng. Các điều khoản thường được ngầm hiểu nhưng cũng có thể nói ra. Cùng với việc nhận điều trị cho một bệnh nhân, bác sĩ nha khoa đồng thời nhận trách nhiệm:
- Bảo vệ bí mật cho bệnh nhân.
- Hoàn tất việc điều trị theo hạn định và đúng chuyên môn.
- Bảo đảm việc điều trị cả trong những tình trạng khẩn cấp lẫn khi vắng bác sĩ nha khoa.
- Nhận thù lao từ bệnh nhân cho điều trị của mình.
* Chú ý:
Các điều khoản của hợp đồng trói buộc ngay từ thời điểm quan hệ đầu tiên và sớm nhất. Lúc bác sĩ nha khoa nhận cuộc điện thoại được coi như là thời điểm bắt đầu thi hành hợp đồng, trừ phi bác sĩ nha khoa từ chối điều trị hoặc không nhận ra người gọi là một bệnh nhân.
3. Bác sĩ nha khoa có thể từ chối tiếp tục điều trị một bệnh nhân sau khi bắt đầu điều trị không ?
Nói chung bác sĩ nha khoa vẫn phải còn có trách nhiệm với bệnh nhân dù là việc điều trị không thể hoàn tất. Người nha sĩ đó phải tìm một đồng nghiệp khác có đủ khả năng để tiếp tục việc điều trị và bác sĩ nha khoa phải có trách nhiệm nhận theo dõi các điều trị đả làm. Ruồng bỏ bệnh nhân xem như là trái hợp đồng và là cơ sở cho nha sĩ bị kiện.
4. Thế nào là định nghĩa của sự ưng thuận tự giác hoàn toàn ? Và khi sự ưng thuận tự giác bị cho là thiếu sót thì sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý nào ?
Bác sĩ nha khoa giải thích tường tận bằng văn bản cho bệnh nhân biết tiến trình điều trị, những rủi ro có thể có khi điều trị, những kế hoạch điều trị thay thế khác và những bất trắc có liên quan đến kế hoạch điều trị thay thế này. Bác sĩ nha khoa phải có trách nhiệm về pháp lý với bất kỳ tổn thương nào của bệnh nhân, cho dù là tổn thương đó không phải vì lý do bất cẩn, nếu như đó là hậu quả của việc cung cấp thông tin không đầy đủ cho bệnh nhân. Hơn nữa, bệnh nhân cần được giải thích rõ ràng bằng ngôn ngữ phổ thông đơn giản. Sự giải thích được coi là đầy đủ so với tiêu chuẩn những gì mà một bác sĩ nha khoa bình thường có thể giải thích được trong những trường hợp tương tự .
Sự cung cấp thông tin thiếu sót là những nguyên nhân ngày càng phổ biến của các vụ kiện bác sĩ nha khoa. Để tránh tình trạng này người ta thường khuyến cáo bác sĩ nha khoa phải đề nghị bệnh nhân đọc kĩ và ký tên vào tất cả các chứng từ với sự làm chứng củ phụ tá bác sĩ nha khoa. Sự bảo vệ hay nhất cho bác sĩ nha khoa là chứng từ rõ ràng, chỉ rõ bác sĩ nha khoa là chứng từ rõ ràng, chỉ rõ bác sĩ nha khoa đã giải thích tất cả các rủi ro, các sự lựa chọn và bệnh nhân chứng tỏ là hiểu rành mạch.
5. Khi nào thì có thể bỏ quả sự ưng thuận tự giác ?
Trong trường hợp khẩn cấp, thỏa thuận được ngầm hiểu bởi qui chế " cứu người". Người ta có thể định nghĩa các trường hợp khẩn cấp khi việc điều trị không thể trì hoãn vì có thể gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc quyền lợi của bệnh nhân và bệnh nhân không có khả năng biểu hiện sự thỏa thận vì cơ thể suy nhược.
6. Ai có trách nhiệm, nếu một vệ sinh viên nha khoa thực hiện một thủ thuật phòng bệnh trên một bệnh nhân bị viêm nội tâm mạc bán cấp, có tiền sử bị thấp khớp và các bệnh van tim nhiễm khuẩn, mà không được điều trị thuốc phòng ngừa?
Chiếu theo nguyên tắc pháp lý " để cho sư phụ trả lời", các nhân viên nha khoa, kể cả bác sĩ nha khoa đều có thể bị kiện về sự cẩu thả (xem như đi lệch ngoài tiêu chuẩn điều trị thông thường) hoặc những vấn đề khác như sơ suất và hành hung trong suốt quá trình hành nghề của họ.
7. Sự chuẩn đoán vội vàng hoặc thất bại trong việc điều trị có bị xem như một tội do cẩu thả không ?
Chẩn đoán sai không nhất thiết bị lên án là cẩu thả. Bởi vì có quá nhiều yếu tố liên quan trong thực hành nha khoa, được xem như không thể kỳ vọng bác sĩ nha khoa luôn luôn đúng 100%. Nguyên đơn phải chỉ rõ sự thương tổn nghiêm trọng là do bác sĩ nha khoa thất bại trong chẩn đoán chính xác, trước khi có cơ sở để kết tội bác sĩ nha khoa là cẩu thả. Hơn nữa, cần phải nêu rõ là bác sĩ nha khoa thất bại trong khi thực hiện ca1c tiêu chuẩn điều trị thích hợp đã được thừa nhận. Nhưng chỉ riêng sự thương tổn cũng đủ lập án cẩu thả. Nếu hiệu quả của việc điều trị quá kém ( thí dụ: sự thất bại trong nội nha do bị gãy dụng cụ nhỏ), tính cẩu thả không bị nêu ra nếu người bác sĩ nha khoa đã áp dụng các tiêu chuẩn điều trị điều trị thích hợp. Dù sao đi nữa, nếu người bác sĩ nha khoa đã hứa hẹn hoàn thành một loại điều trị đặc biệt, hoặc sẽ mang đến kết quả nhất định nào đó, hoặc hứa sẽ hoàn tất tiến trình điều trị, để không còn vấn đề gì tồn tại, mà cuối cùng bác sĩ nha khoa không thể thực hiện đúng cam kết, thì người bác sĩ đó có thể bị kiện trên cơ sở của sự phá vỡ hợp đồng là do cẩu thả.
8. Khi nào ta có thể chuyển một bệnh nhân đến một cơ sở khác ?
Khi bệnh nhân ở trong các trường hợp sau:
1. Khi bệnh nhân có thắc mắc về cách điều trị thích hợp.
2. Khi có chỉ định điều trị nha chu nhưng bác sĩ nha khoa tổng quát không thực hiện loại điều trị này thường xuyên
3. Khi bệnh nhân nha chu ở giai đoạn nặng với tình trạng tiêu xương nghiêm trọng.
4. Trong trường hợp cần các loại điều trị phức tạp do tình trạng bệnh lý tổng quát.
5. Khi muốn cùng chịu trách nhiệm trong các kĩ thuật đa dạng rắc rối.
6. Khi các bệnh nhân không đáp ứng tốt với các điều trị đã được thực hiện hoặc bệnh trạng không ổn định qua một thời gian chữa trị, hoặc với những từ bệnh án rõ ràng chứng minh thất bại trong các kỳ điều tri trước đó.
9. Bệnh nhân thường kiện vì lý do nào ?
1. Thiếu sự ưng thuận tự giác, do bệnh nhân không biết rõ về tính cách đặc biệt hay các biến chứng có thể xảy ra trong khi điều trị.
2. Không chuyển bệnh nhân đúng cách. Thí dụ: điều trị bệnh nhân nha chu nặng chỉ với cạo vôi.
3. Thất bại do không chẩn đoán và điều trị đầy đủ
4. Sự từ bỏ: như bệnh nhân bị từ chối điều trị do không trả tiền thù lao, trong trường hợp này bác sĩ nha khoa phải chứng tỏ là đã cố gắng hết cách như nhờ tòa án đòi hoặc nhờ đại diện thu hồi . Bác sĩ nha khoa phải ghi rõ lý do từ chối điều trị và đề nghị với bệnh nhân những đơn vị khác sẽ chuyển đến và chu toàn tất cả những chăm sóc cần thiết nếu có trong vòng 60 ngày. Nên gởi thư bảo đảm để liên lạc với bệnh nhân.
5. Sự hứa hẹn bảo đảm của bác sĩ nha khoa hoặc nhân viên.
6. Đối xử tệ với bệnh nhân.
7. Thiếu thông tin.
8. Lưu trữ hồ sơ kém.
9. Liên quan tới việc thu viện phí
10. Những điều kiện gì cần thiết để chứng tỏ sự cẩu thả.
Hai yếu tố cần thiết để chứng tỏ sự cẩu thả:
1. Quan hệ với bệnh nhân, điều trị này có thể bắt đầu ngay từ cuộc điện thoại, một cuộc thăm khám hoặc bởi một phim x-quang.
2. Bổn phận điều trị theo những tiêu chuẩn nhất định cơ sở hở trong bổn phận đó gây nên thương cho bệnh nhân.
11. Điều gì làm cơ sở cho việc thu hồi giấy phép hành nghề nha khoa ?
Khi bị kết án là phạm tội do liên lụy đến sự gian lận và lừa bịp trong khi kê toa thuốc, hành vi trái đạo lý trắng trợn hoặc bị kết án gây ra tội ác, chiếu theo luật lệ của tiểu bang thường là cơ sở để cơ quan cấp giấy phép hành nghề của tiểu bang đó quyết định thu hồi giấy phép hành nghề.
12. Những yếu tố chủ yếu nào có thể bào chữa cho sự sơ suất trong điều trị ?
Để kiện một lỗi do sơ suất hoặc sự cẩu thả, bệnh nhân phải chứng tỏ họ bị thương tổn trực tiếp bởi các hành động sai trái của bác sĩ nha khoa hoặc là do các tiêu chuẩn điều trị không được thực hiện. Thất bại do sự điều trị không thành công hoặc không làm bệnh nhân hài lòng về thẩm mĩ thì không tạo thành án do cẩu thả. " Sự bất cẩn góp phần xảy ra tai nạn" là một định nghĩa đặc biệt được sử dụng trong một luật nhằm mô tả việc nguyên đơn có thể góp phần tạo ra thương tổn cho chính họ. Tai nạn do bất cẩn có thể xảy ra nếu bệnh nhân không tuân thủ trong việc dùng thuốc theo toa hoặc các chăm sóc cần được thực hiện tại nhà. Trong những trường hợp đó tất cả kiện tụng về sự cẩu thả đều không có cơ sở.
13. Một hồ sơ nha khoa đầy đủ gồm các yếu tố gì ?
- Số chứng minh.
- Tiền sử bệnh, kể cả chế độ dùng kháng sinh gần đây nhất cho việc phòng ngừa bệnh viêm nội tâm mạc bán cấp, tác dụng của thuốc ngừa thai và hội chẩn bệnh lý nếu cần.
- Xét nghiệm lâm sàng.
- Ghi nhận tiến trình điều trị.
- Giấy thỏa thuận tiến hành phẫu thuật.
- Ghi nhận kết quả điều trị hoàn tất.
14. Cách viết và sửa chữa hồ sơ như thế nào ?
Tất cả các ghi nhận phải được ghi bằng mực hoặc đánh máy, không được ghi bằng bút chì, và các lỗi cần sửa chữa phải được gạch dưới với chỉ một đường và ký tên bên cạnh. Sau đó ghi phần điều chỉnh vào. Thủ tục này nhằm chống lại các lý do không thừa nhận giá trị của các số liệu có trong hồ sơ.

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Đạo Đức Nha Khoa



1. Ba nguyên tắc đạo đức chính trong điều lệ là gì?
1. Từ tâm: đối xử tốt hoặc làm tốt công việc.
2. Tính độc lập: tôn trọng quyền tự do quyết định cho chính bản thân bệnh nhân.
3. Công lý: tính công bằng và bình đẳng
2. Từ tâm trong điều trị nha khoa là gì?
Bác sĩ nha khoa có bổn phận phải:
1. Phục vụ với chất lượng tốt nhất có thể. Điều này có nghĩa là phải trau dồi nghiệp vụ, nâng cao kiến thức và phát triển nghề nghiệp.
2. Giữ gìn cho răng lành mạnh, trừ khi sự giữ gìn răng này gây thương tổn đến sự lành mạnh của những răng khác.
3. Tham gia vào các sinh hoạt, lĩnh vực có liên quan đến pháp y hay y tế công cộng.
3. Nguyên tắc tôn trọng tự do của bệnh nhân là thế nào?
Nguyên tắc này yêu cầu phải tôn trọng ; quyền của bệnh nhân trong việc giữ bí mật riêng, bảo đảm sự ưng thuận tự giác của bệnh nhân trong các công việc chuẩn đoán và điều trị, và phải trung thực với bệnh nhân. Bác sĩ nha khoa nên giải thích rõ với bệnh nhân để cho họ có thể tự quyết định về việc chăm sóc sức khỏe cho họ. Bác sĩ nha khoa có trách nhiệm phải cung câp đầy đủ các dịch vụ mà bệnh nhân đã hợp đồng.
4. Nguyên tắc công lý là gì?
Cá nhân người bác sĩ nha khoa nói riêng, và toàn bộ ngành nha nói chung, bắt buộc phải công bằng và bình đẳng trong công at1c điều trị. Sự tự chế là một trong những nguyên lý đầu tiên trong bổn phận này, cũng như việc phải có trách nhiệm chú ý đến bất kỳ sự bất công nào trong cộng đồng về việc phân bố các tiềm năng của xã hội, để cung cấp những dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân.
5. Tham khảo các nguyên tắc đạo đức nói trên, áp dụng để lấy quyết định trong các trường hợp sau đây:
1. Một bệnh nhân 29 tuổi với vệ sinh răng miệng rất kém và sâu răng nhiều, yêu cầu nha sĩ nhổ và làm răng giả toàn hàm. Khám tổng quát cho thấy bệnh nhân có một mô nha chu lành mạnh và các răng sâu có thể phục hồi được. Người nha sĩ sẽ xử lý cách nào đúng nhất cho trường bệnh nhân không quan tâm đến việc giữ lại những răng không có biểu hiện bệnh lý này?
Sự tôn trọng quyền tự quyết và làm theo của bệnh nhân được đánh giá và nhận định như đi ngược lại bổn phận của bác sĩ nha khoa trong việc cung cấp các dịch vụ có chất lượng nhất. Sau khi vạch ra toàn bộ các ảnh hưởng lâu dài của việc mất răng toàn hàm, cũng như giá thành và lợi ích của việc giữ gìn răng, sự đánh giá mức mức độ hợp tác của bệnh nhân là điều quan trọng nhất. Giữ gìn răng chỉ để sau này bị thất bại, với tình trạng răng hư nát do bệnh nhân không quan tâm và bệnh nhân không quyết tâm bảo vệ sức khỏe răng miệng tốt sẽ là một yếu tố cần được cân nhắc cẩn thậnn trước khi chọn lựa phương pháp điều trị.
2. Một bệnh nhân từ chối chụp X-Quang kiểm tra răng của mình. Phải làm thế nào?
Bác sĩ nha khoa chỉ trông cậy vào sự ưng thuận tự giác của bẹnh nhân về các rủi ro và lợi ích của việc khám không đầy đủ và hậu quả có thể có của quyết định này. Sự tôn trọng quyền lựa chọn của bệnh nhân chiếm ưu thế ( khái niệm tính độc lập ), ngay cả khi tôn trọng này dẫn đến tình trạng người nha sĩ bắt buộc không được can thiệp vào sự lựa chọn của bệnh nhân.
3. Một thiếu niên có một sang thương được ghi rõ là do các bệnh nhân truyền nhiễm qua đường tình dục, yêu cầu không được cho ai biết kể cà phụ huynh của cậu ta. Căn bản đạo lý được nhận định như thế nào?
Quyền tự quyết và tôn trọng đời tư của bệnh nhân lại không quan trọng bằng đạo luật bảo vệ sức khỏe chung. Bác sĩ được yêu cầu  
4. Một bệnh nhân yêu cầu thay toàn bộ các chất trám amalgam. Đây có phải là một vấn đề đạo đức hay không?
Việc thay thế các miếng trám amalgam theo yêu cầu không trái với đạo lý. Có thể xem như thiếu thành thật và trái đạo đức, nếu nha sĩ hứa hẹn sức khỏe chhung của bệnh nhân có thể tốt hơn, hoặc bệnh nhân sẽ thoát được những độc tố trong cơ thể nếu thay thế các chất trám amalgam này. Việc làm được xem là phi đạo đức khi ta qui cho bất kỳ bệnh trạng nào đều do sử dụng amalgam. Bởi vì không có bằng chứng nào chứng tỏ sự liên hệ nhân quả giữa bệnh tật và việc sử dụng amalgam cũng không giúp đỡ phục hồi điều trị bất kỳ một bệnh trạng nào của cơ thể cả.
6. Bác sĩ nha khoa có quyền từ chối điều trị cho một bệnh nhân nào không?
Là phi đạo đức kh bác sĩ nha khoa từ chối điều trị cho bệnh nhân ví lý do chủng tộc, tín ngưỡng, màu da, giới tính hoặc do nguồn gốc quốc gia hay do bệnh nhân đã bị AIDS hoặc nhiễm HIV.
Bác sĩ nha khoa phải quyết định điều trị và chuyển bệnh trên cơ sở giống như đối với bất kỳ bệnh nhân nào. Quyết định này chỉ nên đặt trên cơ sở một nha sĩ có nhu cầu chuyển bệnh nhân đến một đồng nghiệp khác với tay nghề, kiến thức, dụng cụ hoặc kinh nghiệm phục vụ tốt hơn cho sức khỏe của bệnh nhân.
7. Bác sĩ nha khoa có thể thông báo thông tin về một bệnh nhân nhiễm HIV cho bác sĩ nha khoa khác khi chuyển bệnh hay không?
Điều luật về sự bảo vệ bí mật hồ sơ của bệnh nhân, và đặt biệt đối với trường hợp bệnh nhiễm HIV dương tính không thống nhất trong các tiểu bang. Đôi khi, việc cung cấp thông tin mà không kèm theo bản cho phép viết tay của bệnh nhân có thể bị cấm. Như một qui ước, bác sĩ nha khoa nên cố gắng động viên bệnh nhân viết giấy cho phép trước khi thông tin cho một bác sĩ nha khoa kháclúc chuyển bệnh.
8. Một bác sĩ nha khoa có thể tính thù lao khác nhau tùy theo bệnh không?
Có thể được xem như trái đạo lý khi người bác sĩ nha khoa tăng thù lao chỉ vì bệnh nhân có bảo hiểm tốt hơn. Tuy nhiên thù lao có tăng hoặc giảm tùy theo kế hoạch điều trị và tình trạng bệnh lý của bệnh nhân, mà không liên quan đến hình thức thanh toán.
9. Tiêu chuẩn nào quy định việc quảng cáo của bác sĩ nha khoa?
Quảng cáo có thể được cho phép khi những thông tin trung thực và không dẫn đến hiểu nhầm. Được xem là vi phạm hiện hành trong trường hợp một bác sĩ nha khoa can thiệp vào các chuyên khoa khác hay người đó đưa ra những chức vụ không có cơ sở trên bằng cấp chính thức, hay dựa trên những bằng cấp nằm ngoài lĩnh vực y khoa, để nâng cao uy tính cá nhân, hoặc dùng yếu tố "điều trị bảo đảm không gây bệnh HIV"để lôi cuốn bệnh nhân mà không truyền đạt đầy đủ những thông tin làm sáng tỏ những bằng chứng khoa học của lập luận này.
10. Ai là người có trách nhiệm trong việc thực hiện sự phòng bệnh duy trì?
Chính bệnh nhân là người có trách nhiệm về việc điều trị dự phòng của chính mình. Nha sĩ chỉ là người có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin và biện pháp chăm sóc ( nghĩa là nhắc nhở và điều trị dự phòng), nhưng cuối cùng bệnh nhân phải chịu trach nhiệm nhiều nhất trong việc duy trì sức khỏe răng miệng của họ.
11. Người nha sĩ có thể chấp nhận lấy tiền thù lao toàn bộ từ một công ty bảo hiểm nha khoa như một chi phí đầy đủ cho việc chữa trị và không yêu cầu phần chi trả của bệnh nhân không?
Làm như vậy được xem như " làm hóa đơn quá giá" và từ đó việc thu tiền chỉ tập trung vào cơ quan thứ ba, việc nha sĩ không tiết lộ toàn bộ chi phí thật sự cho công ty bảo hiểm biết là điều trái phép.
12. Thế nào là " làm hóa đơn quá giá" ?
"Làm hóa đơn quá giá " là khai giá cao hơn là chi phí thật sự. Ví dụ: trường hợp bệnh nhân chi trả một giá và nha sĩ lập hóa đơn cao hơn công ty bảo hiểm để tránh cho bệnh nhân không phải trả phần của mình.
13. Đổi ngày điều trị thực tế trên tờ khai bảo hiểm để cho bệnh nhân được bồi thường trong trường hợp đáng lẽ người đó không có quyền hưởng phúc lợi nha khoa thì có đúng không?
Việc khai sớm hơn ngày điều trị thực sự ( có nghĩa là ngày điều trị bệnh nhân không nằn trong khoảng thời gian bảo hiểm có hiệu lực) được xem như một việc làm trái phép, khai báo không trung thực đối với cơ quan thanh toán thứ ba..

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

KIỂM SOÁT LÂY NHIỄM


KIỂM SOÁT LÂY NHIỄM


1. Sự khác nhau giữa kiểm soát nhiễm trùng và kiểm soát lây nhiễm là gì?
Kiểm soát nhiễm trùng là bao gồm tất cả những chiến lược và quá trình để ngăn chặn sự lan rộng của nhiễm trùng, nghĩa là sự lây nhiễm của bệnh. Thuật ngữ mới, " kiểm soát lây nhiễm" là thực hiện việc ngăn chặn không cho sự lây nhiễm xảy ra.
2. Những yêu cầu gì cần có trong việc phát thảo kế hoạch kiểm soát lây nhiệm?
Phải bao gồm 3 yếu tố sau đây:
1. Xác định việc lây nhiễm trong nhân viên để phát hiện ra những nhân viên có nguy cơ.
2. Kế hoạch thực hiện và sự thảo luận về những phương pháp đặc biệt để áp dụng cho những yêu cầu đó theo tiêu chuẩn hiện hành.
3. Phương pháp đánh giá và quản lý một sự cố lây nhiễm.
3. Mỗi bao lâu kế hoạch kiểm soát lây nhiễm đã phác thảo phải được xem xét lại?
Tiêu chuẩn bệnh sinh qua đường máu của Tổ Chức Sức Khỏe và An Toàn Lao Động ( the Occupational Safely and Health Administration = OSHA) yêu cầu phải xem xét lại hàng năm cho mỗi kế hoạch kiểm soát lây nhiễm. Kế hoạch cũng phải được xem xét lại và cập nhật hóa nếu cần thiết phải có những thay đổi về kiến thức, về kỹ năng thực hành hoặc yếu tố cá nhân có thể ảnh hưởng đến vấn đề lây nhiễm nghề nghiệp
4. Sự cố lây nhiễm là gì?
OSHA đã định nghĩa vấn đề này, sự cố lây nhiễm là bất kỳ những khả năng có thể được dự kiến trước một cách hợp lý giữa mắt, da, màng nhầy , hoặc những cơ quan ngoài đường tiêu hóa khi tiếp xúc với máu hoặc những chất dịch nhiêm khuẩn tiềm ẩn khác trong quá trình thực hiện bổn phận của họ. Những thuật ngữ thông dụng hơn cho rằng một sự cố lây nhiễm là một tình huống xảy ra đưa đến một người có nguy cơ tiếp xúc / chấn thương do chất hóa học hoặc là y sinh học trong khi hành nghề.

5. Phải bao gồm những gì trong thũ thuật đanh giá một sự cố lây nhiễm?
1. Các thiết bị kiểm soát lây nhiễm và thao tác lâm sàng nào đang được thực hiện vào thời điểm xảy ra sự cố.
2. Phương tiện bảo vệ nhân viên gì được sử dụng vào thời điểm xảy ra sự cố
3. Chính sách gì cũng được triển khai vào thời điểm xảy ra sự cố.
6. Định nghĩa của OSHA về một " cá thể mang mầm bệnh" có liên quan như thế nào với một sự cố lây nhiễm ?
Tiêu chuẩn xác định" cá thể mầm bệnh" cũng như bất kỳ cá thể nào đang sống hoặc đã chết mà trong máu của họ hoặc những vật nhiễm trùng tiềm ẩn khác có thể là nguồn gây nhiễm nghề nghiệp đến các cá thể khác.
7. Những sinh viên có được hưởng những tiêu chuẩn của OSHA hay không?
Theo hợp đồng với OSHA năm 1970, pháp quyền của OSHA có giá trị với nhân viên chứ không bao gồm cả những sinh viên nếu họ không được xem như những nhân viên. Dù không xét đến địa vị của nhân viên , thì hầu hết các điều khoản về tiêu chuẩn bệnh sinh qua đường máu của OSHA được xem là chuẩn mực về những biện pháp thực hành kiểm soát lây nhiễm/nhiễm trùng.
8. Làm thế nào để bạn xác định ai là người có nguy cơ lây nhiễm?
Việc đánh giá nguy cơ bắt đầu bằng việc đánh giá các công việc mà người dân viên thường xuyên làm, hoặc thỉnh thoảng làm, hoặc chưa được làm bao giờ. Nếu bất kỳ một công việc nào đó dẫn đến việc tiếp xúc với máu hoặc những chất dịch có tiềm năng nhiễm khuẩn khác, hoặc nếu một người, thậm chí chỉ một lần được xem như người có nguy cơ lây nhiễm va họ phải học cách để kiểm soát hoặc giới hạn nguy cơ này.
9. Người thư ký văn có thể giúp đỡ một số công việc trong lâm sàng hay không? 
Chỉ khi nào người đó được huấn luyện cách thức làm việc với một thái độ nhằm làm giảm khả năng bị lây nhiễm của họ và họ hiểu biết được nguy cơ này.
10. Thiết bị kiểm soát lây nhiễm là gì?
Một thiết bị được tạo ra từ kỹ thuật công nghệ tiên tiến mà nó cách ly hoặc lấy đi nguy cơ lây nhiễm ra khỏi môi trường lây nhiễm, từ đó làm giảm nguy cơ của một người đối với biến cố lây nhiễm, thì được gọi là thiết bị kiểm soát lây nhiễm.
11. Bạn có thể cho một vài ví dụ về loại thiết bị kiểm soát lây nhiễm trên hay không?
Dụng cụ đậy lại kim là một thiết bị kiểm soát lây nhiễm, như là hộp chứa để cách ly những dụng cụ bén nhọn, những dây kẽm, thủy tinh. Đế cao su dùng trong thủ thuật nha khoa chắc chắn làm giảm đi việc phóng thích các chất dịch dơ trong không khí, và vì vậy làm giảm đi số lượng chất dịch bị nhiễm khuẩ đối với một người có thể bị lâ nhiễm.
12. Vật chứa những công cụ bén nhọn nên đặt ở đâu?
Phải được đặt gần nơi mà nó được sử dụng. Để tăng hiệu quả đáng kể trong việc làm giảm nguy cơ lây nhiễm liên quan đến những dụng cụ sắc nhọn không thể dừng lại, vật chứa phải được đặt gần nơi mà những dụng cụ bén được sử dụng chứ không được đặt ở nơi riêng rẽ bắt buột ta phải đến đó hoặc gây thêm tác động phụ dùng đến tay.
13. Dụng cụ đậy nắp kim gì là có thể chấp nhận được?
Nếu cần đặt gần nơi mà nó được sử dụng bằng những dụng cụ cơ học hoặc sử dụng kỹ thuật một tay để đậy, " kỹ thuật xúc", và phải chắc chắn rằng những đầu kim không bao giờ tiếp xúc trực tiếp với tay.
14. Găng tay có bảo vệ được nhựng lay nhiễm do vật bén nhọn hay không?
Găng chỉ giới hạn mức độ lây nhiễm. Những thao tác cơ học qua việc sử dụng găng tay có thể làm giảm đi một lượng vi khuẩn. Tuy vậy găng tay sẽ không ngăn chặn sự đâm thủng của những vật bén nhọn.
15. Nếu tôi bị đứt tay trong khi làm việc trên bệnh nhân tôi có thể gọi Bác sĩ điều trị riêng cho bệnh nhân đó để hỏi về bệnh sử y khoa của họ hay không?
Trong hầu hết các tiểu bang, bạn không thể làm như vậy. Việc gọi điện thoại mà không có sự chấp nhận từ phía bệnh nhân thì có thể bạn đã vi phạm đến bí mật y khoa của bệnh nhân mình. Bạn có thể thảo luận tình trạng đó với bệnh nhân, nhưng dù sao đi nữa bạn phải đi càng sớm càng tốt bởi một bác sĩ hoặc nhân viên y tế thích hợp.
16. Sự hiện diện của những hạt bụi trong không khí là gì và làm thế nào để giảm nó ?
Sự hiện diện của những hạt bụi trong không khí là một quá trình mà bằng cách đó sự lựa chọn lọc những phân tử được sinh ra một cách nhân tạo bị treo lơ lửng trong không khí và có khả năng gây ra nhiễm trùng qua đường hô hấp. Kích thước phân tử thật sự của một hạt bụi là dưới 50mm theo đường kính. Theo định nghĩa tổng quát về kiểm soát lây nhiễm thì những hạt bụi này là một chất lây nhiễm sinh học mà nó tồn tại ở dạng đặc hoặc dạng lỏng mà ở không khí trong một khoảng thời gian dài.
17. Kiểm soát thao tác làm việc là gì? Và kiểm soát này khác với thiết bị kiểm soát lây nhiễm như thế nào?
Kiểm soát thao tác làm việc được quy định bời hành vi thay vì bởi kỹ thuật như là những thiết bị kiểm soát lây nhiễm. Đơn giản hơn, kiểm soát lây nhiễm trong thao tác làm việc là cung cách đối với nhiệm vụ đã được thực hiện và các phương tiện để làm thay đổi cung cách nhằm làm nhiễm nguy cơ gây lây nhiễm. Ví dụ như, làm thế nào để đậylại kim, là thế nào để bạn sử dụng dụng cụ đó hay không. Có thể là những điều đơn giản như làm thế nào để rửa tay mình để tránh lây nhiễm, đó là hành động kiểm soát lây nhiễm trong thao tác làm việc.
18. Kiểm soát lây nhiễm trong thao tác làm việc tôt nhất ở giai đoạn tẩy rửa dụng cụ là gì?
Có lẽ máy rửa dụng cụ bằng siêu âm là kỹ thuật tốt nhất để rửa dụng cụ mà nó có khả năng làm giảm các sng chấn do dụng cụ bén nhọn gây ra . Nếu không thể có máy siêu âm này, thì việc kiểm soát thao tác làm việc là phải rửa lần lượt từng một hoặc hai dụng cụ , giữ dụng cụ thấp dưới vòi nước đang chảy và cọ rửa chúng bằng một bàn chải có cán dài.
19. Một chất rửa tay thích hợp nên được chế tạo như thế nào?
Tối thiểu nó phải:
- Có khả năng giết hầu hết vi khuẩn và virus
- Tiếp tục giết vi khuẩn và virus, nghĩa là nó phải có một hiệu quả kháng khuẩn kéo dài
- Được người ta đổ ra dùng mà không có nguy cơ gây lây nhiễm chéo.
20. Mục đích của việc xả nước là gì ?
Những đầu phun nước nên được xã liên tục ít nhất là 60 giây giữa các bệnh nhân và ít nhất 3 phút trước khi bắt đầu một ngày làm việc. Quy trình này không bỏ tất cả sự lây nhiễm. Để tăng cường loại bỏ sự lây nhiễm đòi hỏi phải có một hệ thống lọc nước đặc biệt, một nguồn nước vô trùng, hoặc một quá trình khử nhiễm hóa học trong hệ thống nước máy. Xả nước là biện pháp cơ học làm giảm đi sự lây nhiễm của vi khuẩn từ những màn sinh học này là một khối vi sinh vật mà nó tạo thành một khuôn bên trong các thành của ống xịt nước. Bởi vì nước chảy xuyên qua khuôn này, làm cho một vài vi khuẩn có thể phóng thích và trong miệng của bệnh nhân. Thí dụ như: Actinomyces, Staphylococus, Legionella, Pseudomonas, Streptococus, và những vi khuẩn khác.
21. Những biện pháp gì sẽ làm giảm nguy cơ lây nhiễm chéo qua hồ sơ bệnh án nha khoa?
Nguy cơ lây nhiễm chéo có thể hạ thấp, nếu hồ sơ bệnh án không thể mang vào trong phòng điều trị. Tuy nhiên, nếu muốn ghi bệnh án trong khi điều trị thì phải không được cầm bằng tay để ghi khi đang còn mang găng tay. Dù vậy, người ta có thể mang thêm một găng nữa trùm kín đầu găng lăm sàng để cầm bệnh án (chú ý không cho mặt ngoài của găng này bị nhiễm khuẩn), hoặc bệnh án có thể được bao lại để tránh lây nhiễm.

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

LỜI TỰA


Tập sách này được viết bởi những người thích dạy cho những người thích học. Hình thức của quyển sách dưới dạng câu hỏi và câu trả lời ngắn nhằm chủ đích cung cấp cho người đọc những kiến thức giống như những " hạt trai" mà người giảng viên luôn mong muốn đưa đến cho học trò của mình và chính người học trò cũng mong muốn được nghe.
Hình thức này cho phép chúng tôi được ít trịnh trọng hơn đối với một quyển sách giáo khoa. Do đó, rãi rác trong suốt tập sách, độc giả sẽ có dịp nhận thấy một số điểm dí dỏm. Mục đích của chúng tôi nhằm cống hiến cho người đọc một tập tài liệu mà độc giả cảm thấy thích thú và hào hứng khi đọc.
Quyển sách này không nhằm thay thế các quyển sách giáo khoa có giá trị khác trong lãnh vực nha. Và chúng tôi cũng mong rằng bạn dọc sẽ tiếp tục tra cứu thêm về những đề tài mà bạn thấy lý thú. Tuy rằng những câu trả lời ngắn có công dụng trình bày thông tin mốt cách súc tích nhưng dạng này không cho phép chúng ta, mở rộng vấn đề trên phương diện kiến thức căn bản cũng như suy luận. Chúng tôi cố gắng mở rộng  các  đề tài bằng cách  đưa nhiều câu hỏi chi tiết hơn để mong đáp ứng được nhu cầu học hỏi của các bạn sinh viên, các bác sĩ nội trú cũng như các đồng nghiệp hành nghề tư nhân.
Thời gian biên soan tập sách này là một cơ hội thú vị cho phép tôi được làm việc chung với một số bạn đồng nghiệp đã đóng góp cho nội dung các bài việt. Tôi xin cám ơn Mike Bokulich đã công khởi động dự án này. Cuối cùng, tôi cũng rất biết ơn cô Linda Belfus, vừa là biện tập và nhà xuất bản, đã hỗ trợ một cách ưu ái và kiên nhẫn cho tập sách được ra mắt quí độc giả.


                                                                                           Stepen T.Sonis, M.M.D.,D.M.Sc
                                                                                           Boston, Massachusetts